Cặp Bàng Và Con Đường Trở Về .
Tuổi thơ tôi bắt đầu từ lớp học trong xóm nhỏ, nơi buổi sáng chỉ cần nghe tiếng gà gáy là biết sắp vào lớp. Mái ngói rêu phong, bảng gỗ xước màu thời gian, vậy mà với đám trẻ chúng tôi, đó là cả một chân trời rộng mở. Thầy Tư Kiệt – người thầy đầu tiên – dạy chữ bằng giọng trầm khàn mà hiền hậu. Từng con chữ thầy viết lên bảng như gieo vào tôi niềm tin lặng thầm của một đứa trẻ quê.
Năm học lớp Năm, tức lớp Một bây giờ, má mua cho tôi chiếc cặp bàng đan bằng năng lác., hình chữ nhật có thể gấp lại và mở ra được.Khi đi học chỉ cần đội lên đầu có thể che mưa nắng.Cái cặp ấy có mùi lác phơi nắng có mùi thơm ngai ngái và mềm như bàn tay của má. Trong chiếc cặp mộc mạc ấy là cả tuổi thơ tôi: ngòi bút lá tre, bình mực tím mua ở tiệm anh Chín sát trường. Mỗi lần ghé, tôi lại đứng mê mẩn nhìn chiếc bàn banh lỗ của anh – món đồ chơi mà tôi chỉ dám ngắm chứ chẳng bao giờ dám xin sờ thử.
Ngoài chuyện học, tuổi thơ tôi còn có những buổi chạy chân đất chơi đánh đáo dưới gốc me, thảy lỗ bằng những đồng xu móp méo, lội mương bắt dế sau mưa và đứng hàng giờ xem mấy con lia thia lao vào nhau trong lon sữa bò cũ. Chiếc cặp bàng đôi khi bị tôi quăng đại một góc, để rồi tối về má phơi lại cho khô, nắn lại từng chỗ méo. Cái nghèo hồi ấy không làm chúng tôi buồn; nó chỉ khiến mọi thứ trở nên thật và đáng nhớ hơn.
Đến kỳ thi đệ thất, tôi bắt đầu lo. Phần vì thi khó, phần vì nhà nghèo quá, tôi nghĩ hay thôi, nghỉ học. Ngày cuối nộp hồ sơ, tôi vẫn chưa có tấm hình. Nếu bỏ lỡ, con đường học chắc dừng tại đó. Và đúng lúc ấy, thằng bạn thân nhất của tôi – đã xuất hiện như một sợi dây kéo tôi lại. Nó nắm tay tôi, hai đứa đi xe đạp qua Hóc Môn chụp hình ở tiệm Thiên Ân đầu cầu Quang. Nhưng đến nơi thì cúp điện. Tôi đứng chết lặng. Nó nhìn tôi một hồi rồi bảo:
“Đi Thủ Dầu Một đi. Ở bển chắc có điện.”
Thế là hai đứa, với vài đồng bạc và chiếc cặp bàng cũ, lóc cóc lên đường. Lần đầu tiên tôi đến Thủ Dầu Một, mọi thứ xa lạ nhưng cũng đầy hy vọng. Cuối cùng, tôi có được tấm hình nộp hồ sơ. Tôi thi đậu đệ thất, lòng mừng đến run, như mở được một cánh cửa đời mình.
Nhưng học được một năm, tôi nghỉ hẳn. Gia đình tôi túng thiếu, tôi thương má, thương các em nên không đành ngồi mãi trong lớp. Ngày chia tay quê, má đứng ở ngưỡng cửa, mắt hoe đỏ. Những đứa em níu áo tôi hỏi khi nào anh hai về. Tôi xách chiếc cặp bàng đã cũ, lòng nặng như có đá. Trên chuyến xe đò, tôi ngoái nhìn bóng má nhỏ dần giữa sương sớm, lòng nghẹn lại đến khó thở.
Sài Gòn đón tôi bằng những ngày làm thêm không tên: bưng bê, lau chén, khuân hàng… Bữa no bữa đói. Có đêm ngủ trong góc kho tối, tôi tự hỏi mình sinh ra để làm gì. Nhưng rồi một khoảnh khắc nhỏ đã lay tôi tỉnh: nhìn mấy đứa bằng tuổi khoác cặp đến trường, tôi thấy một điều gì đó trong tim nhói lên. Tôi biết, nếu không học, tôi sẽ mãi ở lại trong bóng tối ấy.
Năm năm sau, tôi quay lại trường. Tôi học lại từ đầu, học nhảy lớp, học bù cho những năm đã mất. Nhiều đêm mắt cay xè, chữ nghĩa nhòe trong ánh đèn vàng leo lét, nhưng tôi không bỏ cuộc. Tôi hiểu rằng chỉ có học mới mở đường cho tôi.
Và rồi, một sáng hanh vàng, tôi nhận được giấy báo đậu đại học. Tờ giấy ấy nhẹ mà làm tay tôi run. Tôi nhớ đến đôi vai run run của má, nhớ đến hai hàng nước mắt của ngoại chảy dài khi tôi báo tin thi đậu ... nhớ chiếc cặp bàng đan bằng năng lác đã theo tôi từ thuở bé.
Ra trường trở về quê cũ, con đường đất năm nào đã thành đường nhựa. Ruộng lúa xưa đã có nhà mọc lên. Nhưng đứng giữa mảnh quê đổi thay, tôi nghe như tiếng đáo lách cách, tiếng dế gáy trong mương, tiếng má gọi vọng từ gian bếp. Tất cả như nhắc tôi rằng có những thứ đã đi qua nhưng không bao giờ mất hẳn.
Bởi rốt cuộc, hành trình của một đời người không được đo bằng những nơi ta đến, mà bằng những điều nhỏ bé ta mang theo — một chiếc cặp bằng, một người bạn cũ, một tấm hình chụp vội, và lòng tin âm thầm rằng dù đi vòng vèo đến đâu, ta vẫn có thể tìm lại ánh sáng của chính mình.
Gửi ý kiến của bạn
