10:35 SA
Thứ Bảy
25
Tháng Giêng
2020

NÀNG DÂU BIÊN HÒA - ĐỖ HỮU PHƯƠNG

11 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 13678)

 NÀNG DÂU BIÊN HÒA.

tren_song_5-content-thumbnail

blankblank

 Nhà cô tôi cạnh bờ sông Đồng Nai, gần chợ Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa. Nơi mà tôi đã tạm trú trong thời gian bốn năm đầu học tại trường trung học Tân Uyên. Tôi đã rời khỏi nơi đây vào mùa hè 1964 di chuyễn về học tại trường Ngô Quyền. Và dĩ nhiên tôi đã để lại nơi đó rất nhiều kỷ niệm dể thương của tuổi học trò: Một ngôi trường nhỏ bé thân yêu nơi thôn dã; những bạn bè hiền từ, quí mến; những người dân hiền hòa, chất phát; và một người tình bé nhỏ xinh xinh, dể thương nhất…

 Hai năm sau đó, trong dịp hè, tôi về thăm cô tôi và dự đám cưới anh Thành con cô tôi với chị Thuý. Đám cưới tuy đơn sơ nhưng thật vui với tình nồng ấm của bà con thân thuộc trong không khí an bình của quê hương. Chị Thuý là một thiếu nữ thật đẹp, duyên dáng, mười tám tuổi đã về làm dâu cô tôi. Cô tôi goá chồng từ khi bà còn rất trẻ. Anh Thành là con trai duy nhất của cô tôi. Vì thế, tuy làm việc tại tòa Hành Chánh tỉnh Biên Hoà, nhưng anh phải lấy vợ ở quê để có người trông nom gia đình và chăm sóc cô tôi. Những ngày đầu về làm dâu trong gia đình, đối với chị Thuý là một thử thách thật lớn vì cô tôi rất khó tính. Ngày ấy, con dâu mới về nhà chồng đâu được như bây giờ. Đang ở tuổi ăn, tuổi ngủ, mà phải thức khuya, dậy sớm. Ăn không dám ăn no, ngủ không dám ngủ kỷ, nhưng rồi chị cũng vượt qua “cửa ải ban đầu”.

 Nhà vắng đàn ông, nên mọi việc từ nhỏ đến lớn, kể cả cầy bừa, cấy gặt, đều một mình chị gánh vác. Cũng may Trời phú cho chị có sức khoẻ. Rồi những đứa con lần lượt ra đời. Chị vừa nuôi dạy con, vừa lo toan việc nhà thay chồng. Lúc nầy cô tôi già yếu, không giúp gì đuợc cho chị. Thương cho con dâu chịu vất vã, bà cố giúp cho các cháu một số việc. Thấy vậy chị nói:

 Bây giờ mẹ già yếu rồi, mẹ trông nom dạy dỗ các cháu cho con là qúa nhiều. Cả đời mẹ vất vã vì con, vì cháu, mẹ đừng suy nghĩ gì, mọi việc cứ để con làm. Năm tháng qua đi, buôn chãi với công việc gia đình, nhan sắc chị phần nào phai nhạt. Chiến tranh bắt đầu lan rộng. Những quả bom đã được rơi rớt khắp nơi trong vùng, cầu cống đã bị gẩy bể, đường sá đã bị gián đọan. Vấn đề an ninh trong quận đã không được bảo đảm nên chồng chị rất ít khi về thăm gia đình. Chị cũng hiểu trong hoàn cảnh chiến tranh, việc đi lại cũng thật là khó khăn, nhất là gia đình chị đang ở trong vùng tranh chấp giửa hai bên trong cuộc chiến, nên chị cũng thông cảm cho chồng. Nhưng kể từ khi hiệp định Paris đã được ký kết vào tháng giêng năm 1973, miền Nam chúng ta đã có những ngày tháng yên ổn, anh cũng vẫn không về quê thăm mẹ và vợ con. Sau những tháng buồn bả, trông chồng về, nhưng vẫn biệt tâm tích của chồng. Chị cố gắng dành dụm ít tiền và quyết định lên phố Biên Hoà tìm chồng. Chị hỏi thăm tin tức nhiều nơi nhưng vẫn không tìm ra được. Cuối cùng, chị bạo gan lắm mới đến tận văn phòng toà Hành Chánh tỉnh để hỏi thăm chồng. May thay, vừa đến nơi, một người đã cho chị biết nơi ăn chốn ở của anh Thành; nhưng anh Thành đã có vợ khác!.

 Chị rất đau khổ, lặng lẽ trở về nhà. Chị nhất định không kể câu chuyện cho mẹ chồng biết, cũng như bất cứ ai. Sự thật thì không bao giờ che dấu mãi được. Biết chuyện, cô tôi cho người lên tìm anh bằng được. Bà la chưởi anh thậm tệ. Rơi vào hoàn cảnh đó, người vợ nào không tức giận chồng?. Nhưng chị nghĩ, chuyện cũng đã xẩy ra rồi, làm dữ chồng cũng không giải quyết được việc gì, không khéo “già néo lại đứt dây”. Chị nói với cô tôi: Con xin mẹ bớt giận, dù sao việc cũng đã xảy ra rồi, mẹ để hai vợ chồng con nói chuyện với nhau. Khi chỉ còn hai vợ chồng, chị nói: Em biết lúc này anh rất khó xử, đã ăn ở với người ta có con nên không thể bỏ rơi mẹ con cô ấy. Còn ở nhà bây giờ, mẹ ngày càng già yếu, mẹ chỉ có mình anh là con, mẹ cần sự săn sóc cuả anh, các con cần sự thương yêu và dạy dỗ của người cha. Em tin mẹ sẽ tha thứ cho anh. Em không muốn các con lớn lên không có Ba. Em sẽ nói với các con thế nào đây khi anh bỏ rơi mẹ con em. Thôi, anh cứ lên Biên Hoà tiếp tục việc làm, anh nhớ về thăm mẹ và các con, em sung sướng lắm rồi. Cách cư xữ khôn khéo cùng với tấm lòng vị tha của chị đã thuyết phục được anh. Cô càng quí mến chị hơn.

 Thế rồi năm đó, anh tắm đêm, không may trúng cảm đã qua đời đột ngột. Nhận được tin quá đau buồn đó, chị bàng hoàng, vội vã lên nơi anh ở để lo tang lễ. Tại đây chị gặp chị Khanh, người “vợ sau” của anh. Khi mọi việc xong xuôi, chị nói với chị Khanh: Tôi với cô đều là phận đàn bà, số phần không cho chị em mình may mắn. Tôi biết trong việc nầy, cô không hoàn toàn có lỗi. Dù sao việc đã rồi, cô cứ coi tôi như là chị cô. Mẹ anh ấy bây giờ già yếu lắm, bà rất đau khổ khi nghe tin nầy. Các con của cô cũng như con tôi đều là giọt máu của anh ấy để lại. Vài hôm sau rãnh rổi cô cho các con về thăm bà và để anh chị em nó nhận nhau. Chị Khanh ôm lấy chị khóc nức nở từ từ mới nói nên lời: Em cám ơn chị, chị tốt với em quá. Em tưởng chị câm thù với em lắm. Không ngờ chị nhân hậu quá, chị tha lỗi cho em.

 Sau khi anh mất được một năm, vì tuổi già, vì sức yếu, và quá đau buồn cô tôi trở bịnh nặng. Trong hoàn cảnh túng thiếu, một mình chị phải tảo tần để nuôi bốn con và mẹ già đang đau yếu nằm trên giường. Của cải trong nhà còn bất cứ thứ gì có thể bán được, chị phải bán để lo thuốc thang cho mẹ chồng. Mấy tháng sau đó, cô tôi qua đời. Trước khi nhắm mắt, bà gọi chị lại và nói: Trời không cho mẹ sống thêm với con cháu. Khi mẹ ra đi, con nhớ bốc mộ chồng con về chôn cạnh Ba Mẹ. Máu chảy ruột mềm, con cho con của Khanh đi về ngày giổ Tết, để cúng ông bà và ba nó. Những năm sau khi cô tôi mất, chị làm đúng lời dặn của bà. Các con sau nầy của anh với chị Khanh thường về thăm chị luôn. Chúng rất kính trọng và thương yêu chị.

 Sau hai mươi năm sống xa quê hương, hè năm 1995, tôi được dịp trở về thăm Ba Má tôi cùng tất cả bà con thân thuộc. Tôi trở lại Tân Uyên thăm ngôi trường củ và bạn bè xưa. Ngôi trường yêu mến ngày xưa đã được đổi mới, và cái tên gọi cũng đã đổi thay. Đứng trước sân trường, chung quanh tôi mọi cảnh đều xa lạ. Tôi cố hình dung ra ngôi trường mà trong bốn năm dấu chân tôi đã dẫm nát những ngọn cỏ dại. Ngôi trường có ba dãy trệt được xây hình chữ U. Hành lang trường mà ngày xưa bọn con trai chúng tôi thường hay đùa giỡn, quậy phá. Bạn bè của tôi là những người thật hiền lành, chất phát, dể mến. Sau hai mươi năm những người bạn của tôi giờ đâu rồi?. Ai còn, ai mất, và cuộc sống của họ bây giờ ra sao?. Trong giây phút đó, hình ảnh một người con gái thật dể thương, xinh xắn năm xưa hiện ra trong trí nhớ tôi. Mỗi buổi sáng đến trường, trước tám giờ, cô mang sách vở từ văn phòng Hiệu Trưởng đi ngang qua lớp tôi, đầu cuối xuống vì mắc cở; nhưng khi cô ta ngước lên nhìn phía trái thì cô ta bắt gặp tôi đang đứng ngắm nhìn, nàng e thẹn, và nở một nụ cười duyên dáng trong khi chân bước thật nhanh đi về lớp học và nàng đã để lại trong ký ức tôi một hình ảnh thật đẹp của người con gái …

 Nhân dịp nầy, tôi có ghé thăm chị Thuý. Những giây phút mừng rở và thăm hỏi trôi qua. Tôi thấy vui và hỏi chị: Ngày xưa, tôi thấy cô tôi khó tính quá mà sao chị sống bao nhiêu năm với bà không hề xãy ra điều tiếng gì giửa mẹ chồng và nàng dâu?. Chị cười đôn hậu và nói: Em biết đó, làm dâu thời nào cũng khó. Bà nội các cháu đã làm dâu rồi mới làm mẹ chồng. Cuộc đời bà gặp nhiều trắc trở. Phải hiểu biết nổi khổ của bà để ăn ở cho phải đạo. Điều căn bản là phải sống cho thực bằng chính tấm lòng của mình. Có những lúc khó khăn quá, tôi tưởng không thể vượt qua được, nhưng cứ nhìn thấy các con là mình phải cố gắng, mặc dù trái tim luôn luôn đau đớn và hai dòng lệ thỉnh thoảng rơi tự lúc nào…Nghe chị nói tôi càng hiểu vì sao mọi người trong họ hàng đều kính nể chị. Bây giờ chị đã xây được nhà rộng, khang trang, cuộc sống khá sung túc cũng nhờ các con của chị. Những người con của chị đã lớn và thành danh. Chị mĩm cười và nói tiếp: Hàng ngày tôi nhìn thấy các cháu nội, ngoại, chạy giởn chung quanh nhà và quấn quít bên tôi, tôi đã cảm thấy lòng mình sung sướng, mãn nguyện lắm rồi.

 Sau lần về thăm quê hương và trường củ, tôi tìm lại được quí Thầy, Cô và những người bạn cũ hiện đang sống tại Hoa Kỳ như: Thầy Mã Phiếu, thầy Nguyễn Thanh Tuyền, thầy Huỳnh Văn Lịch, thầy Trần Minh Xuân, cô Nguyễn Thanh Quang…và các bạn: Lê Văn Siêng, Tống Văn Hỏ, Lê Văn Cồn, Nguyễn Văn Phúc, Ngô Văn Đón, Đoàn Văn Xuyến, Đỗ Công Thành, Lê Văn Dữ, Lê Văn Thơm, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Hoàng Huệ, chị Nguyễn Thu Hồng, Nguyễn Thị Nhị, Bùi Thị Ngọc Liên, Huỳnh Xuân Liễu, Huỳnh Thanh Lâm, Phạm Như Nguyệt, Nguyễn Ngọc Hạnh, Mạch Thị Phúc…

 Trong những dòng chữ cuối bài, tôi xin kính gửi đến quý Thầy, quý Cô, cùng tất cả các bạn dưới mái trường thân yêu trung học Tân Uyên ngày xưa lời chúc sức khỏe dồi dào, sống vui và hạnh phúc.

 

 Đỗ Hữu Phương.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Mười Hai 2010(Xem: 15256)
"Cô ấy đã cho tôi sự sống, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành cuối đời tôi để chăm sóc cô ấy" Anh dắt tay chị đi, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười toại nguyện, một mối tình đẹp như những áng mây chiều êm ả trôi lờ lững ở cuối lưng trời…
29 Tháng Mười Hai 2010(Xem: 14203)
Sau một đêm khó ngủ, tôi nghĩ đến lời hứa con cuả tử sĩ Huỳnh Tự Trọng,sẽ kể về câu chuyện có thật này. Một bí ẩn cuả Tâm Linh, đối với tôi thật vô cùng khó giải thích. Trân trọng mời quý vị cùng xem. Và gọi là chút tình với hương linh người tử sĩ.
08 Tháng Mười Hai 2010(Xem: 13763)
Khi gió muà Đông Bắc phả hơi giá lạnh lùng vào mảnh vườn hiu hắt, đầu tháng Mười Hai của mỗi năm, là tôi lại chạnh nhớ đến những mùa Giáng Sinh ngày thơ ấu. Lạ một điều là trong đáy lòng tôi bỗng ấm lại,
03 Tháng Mười Hai 2010(Xem: 14341)
Một câu chuyện gần gũi với đời sống hiện tại, dù biết phải “ an cư mới lạc nghiệp”, nhưng vẫn phải “liệu cơm gắp mắm” mới khỏi cảnh dở khóc dở cười khi mua một cái nhà vượt quá tầm tay.
06 Tháng Mười 2010(Xem: 13070)
Tôi không có đập đìa gì hết. Tôi chỉ là một người trở về từ trại tù cải tạo với tài sản duy nhất và quý giá nhất là một cô vợ chung thủy và ba đứa con ngoan. Tôi gốc gác Biên Hòa, ngày xưa làm việc ở chi khu Long Toàn này, bị một cô nữ sinh tên là Bé Năm, nhà ở gần đó, trói cổ nên đã nhận nơi nầy làm quê hương!
04 Tháng Mười 2010(Xem: 13511)
Cái nhớ của tôi lập lại nhiều lần vào những thời điểm khác nhau. Nhớ Biên Hòa là điều có thật, hay nói cách khác là không giả dối chút nào.Không biết đêm nay tôi còn thao thức và trăn trở với nỗi nhớ Biên Hòa hay không?